Chu kỳ xâm nhập mặn ở ĐBSCL
Xâm nhập mặn có nguyên nhân trực tiếp là sự xâm thực của nước biển, làm gia tăng độ mặn của nguồn nước ngọt nên cơ bản hầu hết các khu vực ven biển đều xuất hiện hiện tượng này, phụ thuộc vào chu kỳ thủy triều. Tuy nhiên không phải ở khu vực ven biển nào, tình trạng xâm nhập mặn cũng diễn ra mạnh mẽ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống.
Do đặc trưng khí hậu và địa hình, khu vực đồng bằng sông Cửu Long là khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất của hiện tượng xâm nhập mặn. Nhóm đất mặn ở ĐBSCL có diện tích đứng thứ 3 sau đất phèn và đất phù sa. Về phân loại, đất mặn ở ĐBSCL được xếp vào mặn do triều hoặc do nước ngầm bị mặn gây ra.

Khí hậu của đồng bằng sông Cửu Long được chia thành 02 mùa rõ rêt: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Với địa hình thấp, nhiều cửa sông, thời kỳ khô hạn từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau là thời điểm xâm nhập mặn diễn ra gay gắt nhất. Độ mặn lớn nhất thường xuất hiện chủ yếu vào tháng 4 hoặc tháng 5 do ảnh hưởng của thủy triều ở biển Đông. Đỉnh điểm mùa khô năm 2015 – 2016, ranh mặn 4g/l vào sâu tới 100km. Ngoài ra, do lưu lượng dòng chảy từ thượng nguồn sông Mê Công đổ về ít cũng là nhân tố chính ảnh hưởng đến tình hình xâm nhập mặn ở vùng cửa sông ven biển của ĐBSCL, trong đó thủy triều là nhân tố động lực, mang nước biển kèm theo độ mặn đi sâu vào nội đồng, trong khi lượng nước từ thượng lưu đổ về còn hạn chế. Bên cạnh đó, lượng mưa giảm cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xâm nhập mặn. Ngoài những yếu tố tự nhiên thì yếu tố con người cũng góp phần không nhỏ gây ra xâm nhập mặn như khai thác và sử dụng nước ngầm quá mức để đáp ứng nhu cầu phát triển, sản xuất và đời sống ở địa phương. Nước biển xâm nhập sâu gây ảnh hưởng trực tiếp tới sinh hoạt của người dân, sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trồng trọt.
Giải pháp kiểm soát, phòng chống xâm nhập mặn
Nắm bắt được chu kỳ của quá trình xâm nhập mặn là cơ sở để xây dựng các biện pháp, giải pháp ngăn chặn, phòng chống và kiểm soát hạn mặn chủ động, kịp thời, hạn chế thiệt hại do hạn mặn gây ra.
- Chủ động điều chỉnh kế hoạch sản xuất nông nghiệp, nâng cao kỹ thuật làm tăng chất lượng nước, giảm lượng nước bị nhiễm phèn, mặn, ô nhiễm, giảm áp lực sử dụng nguồn nước.
- Lựa chọn cây trồng, vật nuôi có khả năng thích nghi, phát triển trong điều kiện hạn mặn, nước mặn, nước lợ, thời gian sinh trưởng tương ứng với chu kỳ hạn mặn.
- Hoàn thiện hệ thống trữ nước, hệ thống dẫn nước, điều tiết nước ngọt phục vụ sản xuất.
- Trang bị hệ thống xử lý nước nhiễm mặn, nhiễm phèn trong trường hợp hạn kiệt mặn, đảm bảo đáp ứng yêu cầu nước sinh hoạt và sản xuất.
